Những phận đời bất hạnh ở “xóm người mù” nằm cạnh nghĩa trang lớn nhất Việt Nam

  • By: Admin
  • Ngày đăng: 20/12/2017

SK&MTChẳng biết từ bao giờ, xóm nhỏ nằm cạnh nghĩa trang Bình Hưng Hoà (quận Bình Tân) được gọi bằng cái tên “xóm người mù”, bởi ở đó hầu hết là gia đình người khiếm thị sinh sống. Mỗi người một câu chuyện, số phận nhưng họ đã cùng chia ngọt sẻ bùi, cảm thông giúp nhau cùng cố gắng. Mù đôi mắt nhưng họ còn đôi tay, đôi chân và ý chí, nghị lực hơn người để nuôi những đứa con khôn lớn.

Hỏi đến “xóm người mù”, người dân xung quanh khu vực nghĩa trang Bình Hưng Hoà không ai là không biết. Suốt mấy chục năm qua, họ đã quen với hình ảnh, bóng dáng những người khiếm thị lần mò trên đường đi sớm về khuya, bán vé số, bàn chải, tăm bông …Những tiếng rao đứt quãng, từng bước chân khó nhọc của những người không nhìn thấy ánh sáng gầy gò, đen nhẻm khiến nhiều người đi đường không khỏi thương xót.

Nhận người quen qua giọng nói

Chúng tôi tìm đến “xóm người mù” khi chiều dần xuống, trời Sài Gòn bỗng trở gió, xám xịt báo hiệu cơn mưa đang kéo về. Những người khiếm thị trong khu xóm trọ đã trở về nhà kịp trước khi cơn mưa xối xả đổ xuống. Cuộc sống nơi “xóm mù” hoàn toàn khác hẳn với những nơi khác. Để nhận diện ra nhau, họ phân biệt qua giọng nói, tiếng cười. Ngay từ đầu xóm đã nghe tiếng nói cười vui vẻ. Sau một ngày đi bán mệt nhọc, họ quây quần trong quán nhó đầu xóm hàn huyên đủ chuyện mà mình gặp trong ngày.

Người đàn ông đeo cặp kính đen chỉ tay về hướng con hẻm phía trong, cười nói: “Phía trong đó cứ thấy nhà nào nhỏ, lụp xụp nhất là nhà của người mù chúng tôi. Chỉ cần chỗ chui ra chui vào nên như thế là ở thoái mái. Sợ bọn trẻ thấy chật chội, khó chịu thôi, chứ bọn tôi có thấy gì đâu mà quan trọng đẹp xấu”.

Gọi là nhà cho sang chứ thực ra đa phần nó giống như một căn phòng trọ lợp mái tôn, ẩm thấp nằm xen lẫn những nhà cao tầng của gia đình sáng mắt. Nhà nào nhà nấy đơn giản chỉ cần chiếc giường lấy chỗ ngả lưng, chiếc vô tuyến cũ kỹ cho các con xem, thêm vài ba chiếc nồi, bát đĩa, bếp ga. Sơ sài là thế, nhưng những vật dụng trong nhà được chủ nhân bài trí rất ngăn nắp, gọn gàng. Ông Huỳnh Tấn Dũng (62 tuổi) lý giải: “Mỗi gia đình sẽ có quy định đặt đồ đạc riêng nhưng nó phải cố định, dễ tìm. Vì toàn người không nhìn thấy gì, mỗi lần đi tìm đồ đều phải dùng tay sờ soạng nên phải để một chỗ tạo thành thói quen. Những đồ vật như dao, kéo, bình nước nóng nguy hiểm thì phải bỏ cẩn thận”.

 

Ông Huỳnh Tấn Dũng cư ngụ tại “xóm người mù” đã hơn 40 năm qua.

Từ một, rồi đến nhiều hộ gia đình kéo về đây sinh sống tạo thành “xóm người mù”. Mỗi người một quê, hoàn cảnh xuất thân, số phận riêng nhưng đến đây, họ đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi. “Trước khi chúng tôi về đây sống, khu này toàn là nghĩa địa, nhếch nhác, bẩn thỉu, đường rất khó đi. Buổi ngày thì vào được khu này, chứ trời bắt đầu chập choạng tối thì chịu chết. Thời đó có tới hàng trăm gia đình sinh sống cạnh nhau, nhà nào cũng bé tí, tuềnh toàng. Hơn 10 năm trước, nhà nước giải toả dân ở khu vực này, nên nhiều gia đình đã di cư đi nơi khác. Nay còn gần chục hộ chúng tôi vấn bám víu sống ở đây thành quen, không đi đâu được”, ông Dũng cho hay. 

 

Những người sống trong “xóm mù” đều kiếm sống bằng nghề bán vé số, bàn chải, tăm bông…

Cuộc sống của những gia đình ở “xóm người mù” cứ như một vòng tròn luẩn quẩn. Công việc chính của họ hầu hết là bán vé số, bàn chải, tăm bông, chổi và thêm một số món hàng khác. Bộ đồ nghề đơn giản chỉ cần chiếc túi cũ nhàu nát đựng vé số, giỏ nhựa đựng những món đồ khác rồi đeo trước ngực, quan trọng nhất là chiếc gậy dò đường. Khi mặt trời vừa ló rạng, cả xóm lại í ới gọi nhau đi bán hàng. Ra khỏi xóm, mỗi người một ngã cho tới khi tối mịt mới lại trở về nhà. Nhiều người còn tranh thủ đi bán buổi đêm để kiếm thêm ít đồng nuôi con. Người nào không đi bán thì quanh quẩn trong góc nhà rồi đi ngủ sớm. Bao nhiêu năm qua, cuộc sống của họ cứ diễn ra đều đều như vậy.

Con cái là động lực, niềm tin,…

Bề nổi là vậy, nhưng phía sau “xóm mù” mỗi người có một câu chuyện buồn, nỗi lo, gánh nặng khác nhau. Thiệt thòi đủ đường là vậy, nhưng nghị lực, ý chí vươn lên nghịch cảnh của họ thì khiến nhiều người phải khâm phục. Không chỉ tự lập, lo được cuộc sống no bữa, những người mù ở đây còn lo cho các con được đến trường cho bằng bạn bằng bè. Nhà ít thì 2 người con, nhiều lên tới gần chục người, được sinh ra rồi lớn lên bên cạnh cha mẹ, hàng xóm khiếm thị ấy. Cuộc sống họ chật vật hơn nhưng con cái chính là ánh sáng, niềm tin, động lực duy nhất giúp họ phấn đấu vượt lên nghịch cảnh.

Ông Dũng đưa chúng tôi vào câu chuyện gia đình mình bằng chất giọng hào sảng, vui vẻ. Năm cậu bé hơn 10 tuổi bị đau mắt hột rồi lâu dần không nhìn thấy gì. Đau khổ, tuyệt vọng nhưng bằng nghị lực, niềm tin tưởng đã giúp ông Dũng vực dậy, chấp nhận sự thật mình là một người mù. Đứa trẻ tập làm quen, nhận biết mọi thứ bằng đôi tai, bàn tay và chiếc gậy tre được người cha vót nhẵn.

Lớn lên, không muốn trở thành gánh nặng cho gia đình, lại muốn ra thế giới rộng lớn bên ngoài nên ông Dũng xin bố mẹ một thân một mình vào Sài Gòn mưu sinh. Những ngày ấy, ông gặp và thương cô gái cùng cảnh ngộ là vợ ông bây giờ. Không thể nhìn thấy khuôn mặt, hình dáng, ông cảm nhận, yêu thương bà qua đôi bàn tay và trái tim rung cảm. “Đưa tay lên rờ thấy mặt bả tròn trịa thì thấy thích”, ông Dũng cười đùa. Chỉ đơn giản có vậy, hai người đưa nhau về sống chung trong căn phòng trọ nhỏ, tuềnh toàng nơi “xóm mù” cho đến tận bây giờ. Vợ chồng ông sinh được 3 người con, đủ trai đủ gái, lớn lên bằng bàn tay chăm bẵm vụng về của bố mẹ khiếm thị và cái đói bủa vây.

Ngày ngày, để các con tự chăm sóc lẫn nhau, hai vợ chồng mỗi người một ngả rong ruổi khắp ngõ nghách Sài Gòn bán vé số, bàn chải, tăm bông, chổi quét…Ngày nào bán được, họ mừng ra mặt rồi mua cho các con ít thức ăn ngon, còn trừ lại chút ít bỏ heo để tiết kiệm. “Những ngày gặp may thì hết sớm. Còn có nhiều ngày xui, bán không được nên không có tiền lời, hai vợ chồng buồn thẫn thờ, miệng lẩm nhẩm tính đi tính lại tiền vốn. Có ngày gặp trời mưa, hai vợ chồng ướt sũng như con chuột lột càng buồn hơn vì xem như bữa đó các con phải ăn đói”, ông Dũng nhớ lại.

Niềm vui đến chưa được bao lâu, bỗng đóng sập ngay trước mắt đôi vợ chồng bất hạnh. 2 người con vì nghèo đói, bệnh tật không được chữa chạy đã lần lượt rời bỏ họ. Vợ chồng ông Dũng đau đớn, sống không bằng chết. Nỗi đau ấy đè nén, bám riết lấy họ cho đến tận bây giờ. Ông bà dành tình thương trọn vẹn cho người con duy nhất còn lại. Chị được đi học rồi đăng ký thi đại học nhưng không đậu nên đành về làm thuê làm mướn và lập gia đình.

Được xem là người sống lâu nhất ở xóm này nhưng gia đình cụ Nguyễn Văn Cẩn (81 tuổi) cũng chẳng khấm khá, tươi sáng hơn. Dáng cụ nhỏ thó, gầy nhom, tóc đã bạc trắng gần hết đầu, những nếp nhăn xếp chồng trên khuôn mặt. Chiếc gậy đi trước dò đường, hai chân bước phía sau chậm chạp, nặng nhọc. Đã ở cái tuổi “gần đất xa trời”, sức khoẻ yếu ớt, thế mà ngày nào cụ cũng đi bán vé số cho tới tối khuya mới về.

 

Cụ Cẩn 81 là người lớn tuổi nhất trong xóm.

Cụ Cẩn quê ở Bình Định. Khi mới vài tuổi, sau trận sốt phát ban, đứa trẻ trở thành người khiếm thị. Lớn lên, chàng trai Cẩn lặn lội một mình vào Sài Gòn mưu sinh. Thương chàng trai thật thà, chăm chỉ, một cô gái khoẻ mạnh bình thường đã đồng ý làm vợ nhưng trong lòng vẫn canh cánh nhiều nỗi lo về tương lai. Ông Cẩn dẫn vợ về sống tại xóm mù này từ năm 1968 và ở cho đến tận bây giờ. 

Hai vợ chồng cụ sinh được 5 người con. Từ lúc có các con, họ luôn đặt mục tiêu phấn đấu phải nuôi cho chúng khôn lớn thành người. Tuy thiếu ăn, thiếu mặc nhưng cụ Cẩn luôn tâm niệm phải cho các con ăn học. Khổ nhất là đến kỳ các con phải nộp tiền học, dù trước đó đã chắt bóp nhưng nó cũng chẳng thấm vào đâu. Gắng gượng không nổi, hai vợ chồng bàn tính với nhau rồi bấm bụng cho hai người con lớn nghỉ học phụ giúp bố mẹ nuôi các em.

“Cả nhà 7 miệng ăn, lúc nào cũng trong tình trạng đói kém. Tiền kiếm được hàng ngày đem đi mua gạo với chút thức ăn là hết. Nhiều khi thấy con đói, ăn khổ sở, mình không thấy tận mắt nhưng cảm nhận được sự thiệt thòi ấy cũng ứa nước mắt. Hai vợ chồng đi bán từ sớm nhưng nhịn không ăn vì sợ tốn tiền, ôm cái bụng đói về nhà vét ít cơm nguội ăn lót dạ”, cụ Cẩn tâm sự.

Bằng ý chí, đôi bàn tay chai sạn, những ngón chân co quắp, đen đúa, thô kệch, nứt nẻ in hằn lên nét cơ cực, vợ chồng ông đã nuôi lớn 5 người con. Nay họ đều đã lập gia đình rồi ra ở riêng. Không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt đã chảy nhưng nay nhắc lại, cụ Cẩn vẫn cảm thấy tự hào dù các con mình chẳng ai thành đạt hay giàu có.

Cách đó không xa là căn phòng trọ của gia đình ông Nguyễn Văn Bình (54 tuổi). Ông bị mù cả hai mắt và mất một cánh tay nhưng hiện là trụ cột của gia đình 5 miệng ăn. Con gái ông bị mắc bệnh động kinh, mỗi khi trái gió trở trời lại lên cơn co giật. Người con rễ chán nản, bỏ mặc vợ con rồi bỏ đi biền biệt. Ông còn có thêm người con trai ốm yếu, thường xuyên vật vã với những cơn đau. Người vợ phải ở nhà lo toan cho con cháu. Còn mình ông với tập vé số len lỏi khắp phố kiếm từng đồng để lo cho cả gia đình.

Mỗi người, gia đình trong “xóm người mù” có một hoàn cảnh éo le khác nhau. Đời họ đã khổ, nhưng đến đời con cháu vẫn luẩn quẩn trong cái xóm ấy và chẳng khấm khá hơn. Giọng cụ Cẩn bỗng chùng xuống, tâm sự: “Số phận đã định riêng như vậy thì phải chịu, dù có kêu gào, than khóc, trách móc cũng chẳng có ai chịu đựng thay mình. Thấy tương lai con cái mờ mịt thì chúng tôi cũng xót thương, lo lắng nhưng cũng đành chịu. Bao nhiêu năm cật lực lo cho chúng no bụng, trưởng thành đã hết sức rồi. Hầu hết chúng chỉ biết đi làm thuê làm mướn vì có được học đến nơi đến chốn đâu. Mong sao khi chúng tôi nhắm mắt xuôi tay sẽ thấy tương lai con cháu tươi sáng hơn đời cha mẹ chúng”.

Đức Cường – Đức Vượng

Gửi bình luận của bạn