Bệnh viện K trang bị máy xạ trị ung thư hiện đại nhất Việt Nam

  • By: Admin
  • Ngày đăng: 03/06/2017

SK&MT - Sáng nay 2/6, bệnh viện K tổ chức Lễ khai trương hệ thống gia tốc xạ trị  và hệ thống PET/CT kỹ thuật cao có chức năng xạ phẫu hiện đại nhất Việt Nam.

Đây đều là những trang thiết bị giúp quá trình xạ trị tế bào ung thư chính xác, giảm thời gian xạ trị và thời gian chụp hình ảnh tế bào ung thư cũng nhanh hơn, giảm lượng dược phóng xạ đưa vào cơ thể người bệnh.
 
Thứ trưởng Bộ Y Tế - GS.TS Nguyễn Viết Tiến cho biết, theo thống kê của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư, ước tính tại Việt Nam có khoảng 94.000 người chết vì ung thư/năm, tỷ lệ tử vong do ung thư tại Việt Nam đứng thứ 78/172 quốc gia được điều tra. Bên cạnh đó vấn đề đáng lo ngại là số người mắc bệnh ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng ngày một tăng nhanh, từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 ca năm 2010 và dự kiến sẽ vượt 190.000 ca vào năm 2020.
 
Hầu hết bệnh nhân ung thư đều đến khám  và điều trị ở giai đoạn muộn nên việc điều trị ung thư trở nên khó khăn và tốn kém. Nhằm nâng cao chất lượng điều trị bệnh sánh ngang với các nước tiên tiến trên thế giới, Bộ Y tế đã đồng ý đề xuất Chính phủ đầu tư một máy xạ trị gia tốc đa mức năng lượng đó là Máy xạ trị Infinity của hãng Elekta (Anh quốc).
 
Theo PGS.TS Trần Văn Thuấn, Giám đốc bệnh viện K, Viện trưởng Viện nghiên cứu phòng chống ung thư, việc đưa vào hệ thống gia tốc xạ phẫu của hãng Elekta có bộ chuẩn trực 160 lá - là hệ thống xạ trị hiện đại nhất Việt Nam hiện nay sẽ giúp các thầy thuốc của bệnh viện K triển khai các kỹ thuật xạ trị mà các quốc gia tiên tiến trên thế giới đang áp dụng như: xạ trị hướng dẫn hình ảnh, xạ trị điều biến thể tích, xạ phẫu khối u não, xạ trị cố định toàn thân khối u di động như phổi, tiền liệt tuyến nhờ kết hợp với kỹ thuật đồng bộ nhịp thở chủ động”- Giám đốc Bệnh viện K cho biết.

 
Kỹ thuật viên thực hiện chụp PET/CT cho bệnh nhân
 
PGS. TS Trân Văn Thuấn cũng cho biết thêm, tác dụng phụ trong xạ trị ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư. Tuy nhiên với hệ thống gia tốc xạ phẫu được đưa vào sử dụng tại Bệnh viện K có bộ chuẩn trực 160 lá hiện đại nhất thế giới sẽ giúp giảm tối đa sự ảnh hưởng của tia xạ tới các mô lành, rút ngắn thời gian điều trị tới 50% so với các thiết bị đang có trên thị trường.
 
PGS – TS Trần Văn Thuấn chia sẻ: “Việc đưa vào sử dụng hệ thống máy xạ trị hiện đại nhất này của Bệnh viện K nhằm thực hiện phương châm lấy người bệnh làm trung tâm, song song với nâng cao hiệu quả điều trị, cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau xạ trị là những tiêu chí mà bệnh viện luôn hướng tới”.
 
Bên cạnh thiết bị điều trị thì một trong những thiết bị không thể thiếu đối với công tác chẩn đoán ung thư là hệ thống PET/CT với khả năng phát hiện ung thư ở những giai đoạn sớm nhất giúp giảm chi phí và tăng khả năng điều trị thành công cho người bệnh. Mặc dù các chỉ định PET đã được nghiên cứu và chỉ định ban đầu trong một số BN thần kinh và tim mạch, tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng hiện nay trên 90 – 95 % số trường hợp chụp PET, PET/CT là sử dụng trong ung thư và FDG là dược chất phóng xạ duy nhất đã được Cơ quan thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (Food and Drug Administration – FDA) phê chuẩn trong ung thư. 
 
Theo hướng dẫn của Hội Y học hạt nhân Hoa Kỳ năm 2006, FDG PET được chỉ định trong ung thư nhằm phân biệt tổn thương lành tính với ác tính, tìm tổn thương ung thư nguyên phát ở các BN được phát hiện di căn xa hoặc có hội chứng cận ung thư (paraneoplastic syndrome), đánh giá giai đoạn bệnh, theo dõi hiệu quả điều trị của ung thư đã được chẩn đoán, phân biệt những bất thường sau điều trị là tổn thương ung thư còn lại hay tổ chức hoại tử, xơ hóa, phát hiện ung thư tái phát, đặc biệt là ở các BN có tăng các dấu ấn ung thư, lựa chọn vị trí thích hợp để sinh thiết chẩn đoán, hướng dẫn xạ trị ung thư.
 
Lợi thế của FDG PET là có thể phát hiện, phân biệt (bằng hình ảnh định tính và định lượng) các tổn thương ác tính với đặc điểm tăng chuyển hóa và tích tụ FDG trong tế bào với các quá trình bệnh lý lành tính thường không bắt giữ hoặc bắt giữ FDG thấp. Cũng dựa vào cơ chế tương tự, PET có thể phân biệt tổ chức hoại tử, xơ hóa sau điều trị với khối u ác tính còn tồn dư với tổn thương tái phát. Đây chính là hạn chế của các phương pháp chẩn đoán hình ảnh cấu trúc, giải phẫu thông thường như CT và MRI. PET còn được sử dụng trong theo dõi kết quả điều trị hóa chất và/hoặc xạ trị một số ung thư. Thông thường khi đọc kết quả CT, các hạch nhỏ dưới 1 cm được coi là bình thường và hạch lớn hơn 1 cm được cho là hạch di căn. Tuy nhiên, các di căn sớm có thể đã xuất hiện ở các hạch dưới 1 cm và những hạch kích thước trên 1 cm co thể do tổn thương viêm. 
 
Chính vì vậy, trong nhiều loại ung thư, CT có độ đặc hiệu chẩn đoán khá thấp trong xác định giai đoạn bệnh. Dựa vào hình ảnh PET, độ nhạy và độ đặc hiệu chẩn đoán giai đoạn ung thư trước hoặc sau điều trị được cải thiện rõ rệt so với sử dụng CT đơn thuần. Dựa trên các chỉ định được CMS chấp nhận, nhiều nghiên cứu đã chứng minh PET/CT chính xác hơn từ 10 – 15% so với sử dụng PET riêng rẽ trong xác định giai đoạn ung thư. Tăng độ chính xác gắn liền với sự thuận tiện và mức độ tin tưởng của bác sỹ khi các thông tin về chuyển hóa được kết hợp với biến đổi cấu trúc, khu trú tổn thương trên hình ảnh PET/CT. Đối với những ung thư chưa được CMS chấp nhận chi trả, nghiên cứu của Hillner và cs từ chương trình NOPR đã thấy các bác sỹ lâm sàng thay đổi 36,5% ý định điều trị ban đầu đối với BN sau khi chụp PET/CT.
 
Nhằm giảm thấp nhất lượng dược chất phóng xạ đưa vào cơ thể người bệnh và rút ngắn thời gian chụp, bệnh viện đã trang bị hệ thống PET/CT với cảm biến có bề rộng và độ nhạy cao vượt trội so với các hệ thống PET/CT hiện có.
 
Hoàng Sinh
 
Gửi bình luận của bạn