Bàn chuyện đô thị thông minh, ngẫm về an sinh xã hội

Trong vài năm trở lại đây, nhiều chuyên gia và học giả liên tục đề cập đến khái niệm xây dựng thành phố thông minh trên cơ sở thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0. Nhiều học giả cho rằng đô thị thông minh là kết quả tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội ở thời kỳ hậu công nghiệp trên nền tảng internet vạn vật và trí tuệ nhân tạo. Từ góc nhìn theo lý thuyết phát triển bền vững đã được chúng tôi đề cập trong cuốn sách “Phát triển bền vững: Lợi thế của người đi sau”, tôi muốn giới thiệu một cách nhìn mới từ khía cạnh kinh tế - xã hội đối với khái niệm và mô hình xây dựng thành phố – đô thị thông minh.
Có thể thấy những đặc điểm chính của một đô thị tích hợp phát triển trong thời đại 4.0 với các đặc điểm chính như sau: Việc phát triển đô thị là một mô hình tổng thể, tích hợp các yếu tố kinh tế và xã hội; các vấn đề xã hội của thành phố là bộ phận cấu thành cốt lõi trong quá trình quy hoạch đô thị tích hợp; các khu vực lân cận kém phát triển sẽ là những khu vực được ưu tiên đầu tư; trong thành phố, các vấn đề giá nhà ở, giao thông công cộng, sự tham gia của người dân vào quá trình hình thành không gian công cộng, môi trường giáo dục, hỗ trợ gia đình và thị trường lao động được quan tâm và thể hiện vào quy hoạch vật thể; Ranh giới giữa một bên là cộng đồng dân cư khép kín với thu nhập cao và một bên là khu vực của người nghèo dần được xoá bỏ thông qua việc hình thành các không gian công cộng trong quy hoạch tích hợp.
Qua thực tế ở một số nước đang triển khai xây dựng đô thị thông minh, có thể nhận rõ 5 tồn tại cơ bản của thành phố - đô thị thông minh.
Một là, việc xây dựng đô thị thông minh chủ yếu do các nhà đầu tư bất động sản, đầu tư công nghệ thông qua các công ty triển khai. Vì vậy, một vấn đề đặt ra là trong quá trình xây dựng đô thị thì lợi nhuận được tạo thành từ quá trình hình thành đô thị, mua bán và lắp đặt các thiết bị thông minh cũng như chi phí vận hành sẽ được phân chia như thế nào giữa Nhà nước - những người bỏ vốn đầu tư và người dân sống tại các khu vực đó.
Hai là, việc quy hoạch đô thị thông minh được triển khai theo mô hình “top down” (từ trên xuống) trên cơ sở mong muốn về chính trị để đạt được một đô thị hiệu quả về mặt kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ nhưng yếu tố tác động xã hội chưa được coi trọng. Người dân ít khi được hỏi mong muốn của họ về một đô thị thông minh cần phải đáp ứng những vấn đề gì.
Ba là, việc áp dụng công nghệ tràn lan hay còn gọi là “xây dựng công dân minh bạch” trong đô thị thông minh bởi hệ thống camera an ninh quét tới từng centimet vuông ở khu đô thị, bên cạnh lợi thế trong quản lý, điều hành và đảm bảo an ninh trật tự, thì vấn đề quyền con người, quyền tự do của từng cá thể trong một xã hội phát triển cũng ít được các nhà hoạch định chính sách đô thị thông minh quan tâm đúng mức.
Bốn là, đô thị thông minh đòi hỏi cư dân cũng là những “cư dân thông minh”, tức là đòi hỏi người dân phải có trình độ hiểu biết nhất định về công nghệ, đủ kiến thức để sử dụng các công nghệ được áp dụng trong đô thị. Như vậy, vô hình chung đã đưa ra một giả thiết là trình độ dân cư của đô thị thông minh là phải tương đương nhau, chỉ có những người đạt một trình độ kiến thức nhất định mới sử dụng được hiệu quả các ứng dụng của đô thị thông minh. Hậu quả là đã gạt những người yếu thế trong xã hội, những người nhập cư có nguồn gốc là nông dân ra đô thị để mưu cầu cuộc sống. Những người này phần đông không đủ năng lực về tài chính để có thể đầu tư các thiết bị công nghệ phù hợp với kết cấu công nghệ mà đô thị thông minh sử dụng.
Năm là, các khía cạnh về xã hội – văn hoá trong quá trình quy hoạch đô thị thông minh ít được quan tâm. Vì vậy, mô hình quản lý đô thị thông minh sẽ thiên về quản trị con người mà ít quan tâm đến các vấn đề về tinh thần, giải trí, văn hoá trong môi trường sống đô thị.
Từ 5 tồn tại cơ bản trên, với quan điểm phát triển trên cơ sở tam giác “phát triển bền vững’’ để Việt Nam xây dựng một thành phố trong tương lai phải là phát triển bền vững, lấy người dân làm trung tâm, và tiếp cận quy hoạch theo hướng liên ngành, tích hợp. Thông qua đó, tăng cường gắn kết các hoạt động của công việc – đời sống dân cư – giải trí để đô thị trở nên đáng sống hơn, thân thiện với con người hơn, ổn định hơn về mặt xã hội, và ít bị ảnh hưởng bởi tác động từ các cuộc khủng hoảng kinh tế. Mục tiêu cuối cùng của phát triển đô thị Việt Nam trong tương lai là đạt được sự liên kết và hội nhập về văn hoá và xã hội cũng như kinh tế giữa những khu vực yếu thế của đô thị nhằm đạt được sự phát triển đồng đều giữa nông thôn và thành thị, thực hiện phương châm không ai bị bỏ lại phía sau.
Với các mục tiêu trên, chúng ta có thể xây dựng 9 chỉ số để đánh một đô thị trong quá trình phát triển của mình: Có một thị trường nhà ở với giá cả phù hợp với thu nhập của đa số dân cư; Khả năng về di chuyển giao thông, về di chuyển chỗ ở phù hợp với việc làm và cuộc sống; Bảo vệ được thiên nhiên và các di sản văn hoá trong khu vực quy hoạch đô thị, lấy đây làm tiêu chí phát triển hài hoà giữa quá khứ và tương lai; Xây dựng đô thị phát triển: dựa trên sự tích hợp của các quy hoạch về nhà ở, giao thông (tĩnh và động), sử dụng năng lượng tái tạo, sự hài hoà giữa không gian sống – không gian công cộng; Đô thị phát triển hài hoà với thiên nhiên, tránh xây dựng những công trình tác động đến sự cân bằng tự nhiên vốn có (hạn chế xây dựng những công trình đê, đập, hồ chứa nước nhân tạo hay cản trở dòng chảy của lưu vực sông, phá rừng…); Bảo vệ môi trường, bao gồm cả môi trường khí, môi trường nước, và rác thải (công nghiệp và sinh hoạt); Có không gian công cộng phù hợp với yêu cầu phát triển con người ở trình độ mới, con người mới vừa hồng vừa chuyên; Hoà hợp không gian kinh tế - xã hội giữa đô thị và nông thôn; Sử dụng các vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường, tránh việc bê tông hoá, kính hoá trong đô thị.
Những tiêu chí trên về cơ bản sẽ góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách vĩ mô xử lý được các vấn đề gia tăng dân số của đô thị một cách không theo ý muốn, và xử lý được mối quan hệ giữa đô thị hoá với bảo tồn nông thôn, gắn với việc tạo việc làm mà không có sự cách biệt về mặt xã hội tại các đô thị lớn.
Nếu chỉ đặt vấn đề xây dựng đô thị thông minh dựa trên nền tảng của internet vạn vật với cơ sở dữ liệu lớn (big data) nhằm đáp ứng yêu cầu của người sử dụng và cung ứng dịch vụ cho người sử dụng, chúng ta thấy thể hiện nhiều nhất, dễ cảm nhận nhất trong đô thị thông minh chính là hệ thống giao thông trong thành phố với sự kết nối của phương tiện giao thông công cộng, giao thông cá nhân với hệ thống kết cấu hạ tầng nhằm đảm bảo thời gian đi lại của người dân là tối ưu, đảm bảo thân thiện môi trường. Hệ thống thông tin liên lạc với các đường truyền lưu lượng lớn, các trung tâm phát tín hiệu phục vụ internet không dây tại những khu vực công cộng sẽ tạo ra một môi trường sống trong bầu khí quyển của các trường điện từ được tạo ra bởi các thiết bị không dây nhằm phục vụ cho công cụ thông minh của đô thị. Với những vấn đề đặt ra như vậy, mô hình đô thị thông minh không thể là mô hình chủ đạo trong quy hoạch đô thị tương lai, mà chỉ có thể là một bộ phận cấu thành trong một chiến lược phát triển đô thị tích hợp, bền vững. Tạm đề xuất đó là mô hình đô thị xã hội, trong đó đô thị thông minh là một trong những yếu tố quan trọng.
Từ nhận thức như vậy, việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 cần coi mô hình đô thị xã hội là mô hình nền tảng của chính sách phát triển đô thị tích hợp của Việt Nam, trong đó chú ý các dự án đầu tư xây dựng tại các thành phố hiện có, thực hiện tại các khu dân cư nhằm cải tạo và tu bổ cơ sở hạ tầng (giao thông và internet), cải thiện chất lượng ở với tư cách là tiền đề cho các biện pháp hoà nhập xã hội như các khu vực trung tâm thành phố, các quảng trường hoặc các khu sinh hoạt cộng đồng ở nhiều phường khác nhau. Việc xây dựng đô thị thông minh phải dựa trên sự tích hợp những quy hoạch nhằm thu hút sự tham gia của người dân, trong đó có sử dụng ngân sách của trung ương, ngân sách của tỉnh và kinh phí do người dân đóng góp nhằm đạt được mục tiêu không có sự chia cắt về không gian sống trong thành phố, tránh hình thành các khu dân cư khép kín như kiểu Ciputra, Phú Mỹ Hưng… mà thay vào đó là khuyến khích hình thành các khu nhà ở của đô thị thông minh hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi giai tầng trong xã hội và tạo sự bình đẳng về cơ hội phát triển cho mọi cư dân trong khu phố. Chỉ có như vậy, dựa vào sự phát triển rất nhanh của khoa học công nghệ tạo nên những bước đột phá về kinh tế, chú ý đến các vấn đề về an sinh xã hội trong một đô thị, thì chúng ta mới xây dựng được một nước Việt Nam mới như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và mọi người dân Việt.
TS. NGUYỄN ĐỨC KIÊN
Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng
Các tin khác
Cao Bằng: Củng cố khối đại đoàn kết, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển
Đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, Thái Nguyên thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Đồng chí Trần Sỹ Thanh - Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra thăm, tặng quà nhân dân tỉnh Sơn La
Điện Biên chú trọng phát triển dinh dưỡng trẻ em bền vững
Sinh kế bền vững giúp người dân Sin Suối Hồ (Lai Châu) vươn lên thoát nghèo
Cần Thơ kỷ niệm 51 năm thống nhất đất nước, khẳng định vị thế trung tâm ĐBSCL
Sun Group khai trương tổ hợp giải trí ẩm thực VUI-Fest Ha Long
Cử tri Cần Thơ kiến nghị nhiều vấn đề về y tế, khoa học công nghệ và tổ chức bộ máy
Sư đoàn 316 đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân
Đọc nhiều
Danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND TP Cần Thơ
Đắk Lắk: Cần thời gian để các lò gạch truyền thống chuyển đổi quy trình sản xuất mới
Cần Thơ khen thưởng Bệnh viện Đa khoa thành phố sau ca ghép thận đầu tiên thành công
Chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, phường Ô Môn hướng tới chính quyền phục vụ
Cần Thơ: Bàn giao hệ thống xạ trị gia tốc cho Bệnh viện Ung bướu
Videos
E-magazine Inforgraphic Video
Nghi vấn xả thải ngầm khiến nguồn nước kênh mương tại xã Bình Minh (TP Hà Nội) ô nhiễm kéo dài
Thủ tướng động viên lực lượng bảo đảm vệ sinh môi trường ở Hà Nội
Diễn văn của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng
Đại hội XIV của Đảng sự kiện trọng đại của đất nước trong giai đoạn mới
Hợp tác xã bệ đỡ vùng trồng rau an toàn tập trung tại Hưng Yên
Hưng Yên sản xuất rau quả công nghệ cao hướng đi bền vững cho nông nghiệp sạch
Xã Ô Diên – Hà Nội: Bất cập từ bãi vật liệu xây dựng gây ô nhiễm môi trường và trách nhiệm quản lý tại địa bàn cơ sở
Cảnh báo hành vi giả danh cán bộ thuế, cơ quan thuế để lừa đảo
Ra mắt ứng dụng Tuyên giáo và Dân vận trên điện thoại thông minh
Bồi đắp nguồn nhân lực tại chỗ, từng bước nâng cao dân trí
Khánh thành công trình Trụ sở làm việc Cơ quan Chủ tịch nước
Điện, thư chúc mừng Tổng Bí thư Tô Lâm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ thượng cờ "Thống nhất non sông" tại Quảng Trị
Xã Hoàng An (Phú Thọ) siết chặt an toàn thực phẩm học đường, bảo vệ sức khỏe học sinh
Đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, Thái Nguyên thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Đồng chí Trần Sỹ Thanh - Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra thăm, tặng quà nhân dân tỉnh Sơn La
Bắc Ninh: Thông tin về kế hoạch tổ chức Lễ hội Đền Đô 2026
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự Lễ thượng cờ "Thống nhất non sông" tại Quảng Trị
Tuyên Quang: Siết chặt quản lý, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng trong khai khoáng
Khai mạc Mùa du lịch biển 2026 với chủ đề "Ninh Bình - Từ Non thiêng đến Biển rộng"
Đắk Lắk: Xử lý nghiêm sai phạm trong thi hành công vụ, cảnh báo nguy cơ từ tai nạn giao thông và tội phạm ma túy
Tiếp tục áp dụng Nghị định 15/2018/NĐ-CP về an toàn thực phẩm cho đến khi có quy định mới
Đối tượng phải thực hiện trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì
Phú Thọ: Trạm trộn bê tông sát kênh thủy lợi – Dấu hiệu xả thải và khoảng trống pháp lý cần làm rõ
Phú Thọ: Học sinh Trường THPT Chuyên Hùng Vương vào chung kết Olimpia năm 2026
Đại học Cần Thơ: Những dấu ấn trên chặng đường 60 năm
Khai trương Cơ sở đào tạo các Chương trình phi lợi nhuận và khai giảng Khoá đào tạo Chương trình IM Japan, EPS tại Cần Thơ
