Sạt lở ở ĐBSCL - Bài toán an cư và sinh kế của người dân miền Tây
![]() |
Bất an bên dòng sông
Những ngày qua, bà Nguyễn Thị Mỹ Hiền, 75 tuổi, ở ấp Phụng An, xã Nhơn Mỹ, thành phố Cần Thơ, vẫn chưa hết bàng hoàng khi nhớ lại vụ sạt lở xảy ra giữa đêm, khiến căn nhà của gia đình đổ xuống sông Rạch Mọp cùng đoạn đường giao thông dài khoảng 30 m. Đây không phải lần đầu bà phải đối mặt với cảnh nhà cửa bị đe dọa bởi sạt lở. Sau nhiều lần di dời nhà vào sâu bên trong đất vườn, gia đình bà vẫn không tránh được tình trạng đất tiếp tục bị cuốn trôi.
“Tôi bị sạt lở mấy lần rồi. Hồi trước ở ngoài kia, sạt lở nên tôi mới cất nhà chuyển vô đây, dời từ từ lên, vậy mà giờ lại bị sạt lở nữa. Lần đầu sạt lở khoảng 11 giờ đêm, lần này cũng khoảng 2 giờ sáng, toàn xảy ra ban đêm. Lần đầu, tôi tưởng chồng mình chết rồi, vì sạt lở làm dạt miếng tôn, ổng bị thương, máu me khắp người. Trải qua mấy lần sạt lở, tôi sợ lắm, làm sao mà yên tâm được”, bà Hiền chia sẻ.
![]() |
Theo Chủ tịch UBND xã Nhơn Mỹ Cao Minh Thơm, địa phương ghi nhận hơn 100 điểm sạt lở với tổng chiều dài hơn 1.600 m. Tình trạng này đã làm chia cắt 5 tuyến đường huyết mạch, cuốn trôi hoàn toàn 9 căn nhà của người dân, với thiệt hại tài sản ước tính hơn 6,2 tỷ đồng.
Tại xã Thạnh Hòa, thành phố Cần Thơ, nhiều vụ sụt lún, sạt lở xảy ra từ đầu năm 2026, tập trung ở khu vực ven kênh xáng Nàng Mau. Theo thống kê của địa phương, các điểm sạt lở ảnh hưởng đến 12 căn nhà và khoảng 40 m đường giao thông nông thôn. Một số hộ dân phải di dời khẩn cấp để bảo đảm an toàn.
Không chỉ mất nhà cửa, người dân còn phải đối mặt với những xáo trộn trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh và đi lại. Đối với các hộ sống lâu năm ven sông, kênh, rạch, mỗi lần sạt lở không chỉ là thiệt hại về tài sản mà còn kéo theo nỗi lo về nơi ở và sinh kế.
Theo thống kê, thành phố Cần Thơ ghi nhận khoảng 300 điểm sạt lở, với tổng chiều dài hơn 35 km, ảnh hưởng đến 103 căn nhà và gây hư hỏng, ảnh hưởng đến hạ tầng giao thông. Thành phố đã ban hành 13 quyết định công bố tình huống khẩn cấp về sạt lở, làm cơ sở triển khai các giải pháp xử lý, khắc phục.
Tại tỉnh Cà Mau, tình trạng sạt lở cũng diễn biến đáng lo ngại. Theo thống kê sơ bộ, từ đầu năm 2026 đến giữa tháng 8, thiên tai gây thiệt hại tại tỉnh ước khoảng 30 tỷ đồng. Toàn tỉnh xảy ra 91 vụ sạt lở, với tổng chiều dài khoảng 2.471 m, ảnh hưởng đến 84 căn nhà, công trình và diện tích sản xuất.
Ông Phạm Văn Tý, người có hơn 8 năm lập nghiệp bên bờ sông Cửa Lớn, thuộc ấp Sa Phô, xã Đất Mới, tỉnh Cà Mau, đã chứng kiến nhiều vụ sụt lún, sạt lở đất ven sông. Theo ông, sạt lở trong những năm qua đã lấn sâu vào đất liền gần 20 m tại khu vực ông sinh sống. Vụ sạt lở gần đây nhất xảy ra cách thời điểm ông chia sẻ gần 2 tháng, vào lúc nửa đêm, khiến ông đến nay vẫn bàng hoàng mỗi khi nhớ lại.
Từ Cần Thơ đến Cà Mau, những câu chuyện trên cho thấy sạt lở không còn là sự cố riêng lẻ tại một vài khu vực mà đã trở thành mối đe dọa thường trực đối với người dân sống ven sông, kênh, rạch. Những điểm sạt lở xuất hiện, mở rộng và gây thiệt hại đặt ra áp lực ngày càng lớn đối với công tác bảo vệ dân cư, hạ tầng và ổn định đời sống.
![]() |
Khắc phục còn hạn chế
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ĐBSCL đang đối mặt với tình trạng sụt lún trên diện rộng, tốc độ phổ biến từ 0,5 - 3 cm/năm; tại nhiều khu vực ven biển, tốc độ sụt lún vượt 2,5 cm/năm. Kết quả quan trắc cho thấy, trong 5 năm gần đây, mức sụt lún tại một số nơi trong vùng vượt 10 cm. Từ năm 2016 đến nay, toàn vùng ghi nhận 2.137 điểm sụt lún cục bộ, tập trung tại các tuyến kênh, rạch, đê bao và khu vực ngọt hóa.
Về sạt lở, toàn vùng xuất hiện 812 điểm với tổng chiều dài hơn 1.210 km, trong đó có 315 điểm đặc biệt nguy hiểm, ảnh hưởng trực tiếp đến dân cư và hạ tầng. Bên cạnh đó, tình trạng ngập úng do triều cường, hạn hán và xâm nhập mặn tiếp tục gây sức ép đối với sản xuất, sinh hoạt của người dân.
![]() |
Theo Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, dung tích các hồ chứa ở thượng nguồn sông Mekong tăng nhanh trong hơn 20 năm qua, từ khoảng 15 tỷ m³ năm 2001 lên khoảng 71 tỷ m³ hiện nay, làm thay đổi đáng kể chế độ dòng chảy về hạ lưu. Cùng với những thay đổi về dòng chảy, phù sa từ thượng nguồn, tình trạng khai thác cát và nước ngầm vượt quá khả năng phục hồi tự nhiên cũng góp phần làm gia tăng nguy cơ sụt lún, sạt lở tại ĐBSCL.
Trước thực trạng này, các địa phương đã triển khai nhiều giải pháp khắc phục, từ gia cố tạm thời các vị trí xung yếu đến đầu tư công trình bảo vệ bờ sông, bờ biển. Tuy nhiên, nhu cầu xử lý vẫn vượt xa khả năng cân đối nguồn lực tại nhiều nơi.
Năm 2026, thành phố Cần Thơ bố trí hơn 47 tỷ đồng từ các nguồn kinh phí để xử lý 65 điểm sạt lở, với tổng chiều dài gia cố hơn 11.700 m. Mặc dù vậy, thành phố còn khoảng 207 điểm sạt lở bờ sông, tổng chiều dài hơn 17.700 m, cần nguồn vốn ước tính trên 1.570 tỷ đồng nhưng chưa được bố trí kinh phí gia cố. Trong đó, 8 điểm được xác định rất cấp bách, có tổng chiều dài hơn 9.500 m, nhu cầu kinh phí trên 1.290 tỷ đồng.
Tại xã Thạnh Hòa, thành phố Cần Thơ, Chủ tịch UBND xã Đặng Ngọc Nguyên cho biết, địa phương đã tăng cường tuyên truyền, vận động người dân di dời tài sản khỏi khu vực xung yếu; huy động lực lượng hỗ trợ và triển khai các biện pháp gia cố tạm thời tại những điểm có nguy cơ sạt lở. Tuy nhiên, do phạm vi sạt lở rộng, quy mô xử lý lớn, giải pháp căn cơ là đầu tư công trình kè bảo vệ bờ kênh xáng Nàng Mau. Nguồn vốn cần thiết lại vượt quá khả năng cân đối của địa phương.
![]() |
Khó khăn không chỉ nằm ở kinh phí xây dựng công trình mà còn ở việc bố trí nơi ở an toàn cho người dân. Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trần Chí Hùng, tình trạng sụt lún, sạt lở bờ sông diễn biến phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Việc di dời các hộ khỏi khu vực nguy hiểm gặp nhiều trở ngại do tập quán sinh sống ven sông đã hình thành qua nhiều thế hệ.
“Qua khảo sát, nhiều hộ dân không có đất ở ổn định nên dù sinh sống tại khu vực nguy cơ sạt lở cao vẫn chưa thể di dời. Thành phố cần xây dựng đề án di dời dân cư vùng sạt lở, đồng thời lồng ghép với các chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát để hỗ trợ đất ở cho những hộ không có điều kiện xây dựng nhà ở ổn định”, ông Trần Chí Hùng cho biết.
Từ thực tế cho thấy, nếu chỉ xử lý các điểm sạt lở bằng giải pháp công trình mà chưa giải quyết được bài toán nơi ở và sinh kế, người dân vẫn có nguy cơ tiếp tục bị ảnh hưởng khi thiên tai xảy ra. Việc bố trí dân cư cần gắn với điều kiện sản xuất, việc làm và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu, qua đó giúp người dân yên tâm ổn định cuộc sống lâu dài.
Tìm giải pháp tổng thể
Tại An Giang, việc bố trí dân cư gắn với tạo sinh kế đang được xem là một hướng đi quan trọng trong ứng phó sạt lở. Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang Lê Hữu Toàn, địa phương có gần 5.000 hộ dân, với khoảng 21.000 nhân khẩu, nằm trong khu vực có nguy cơ sạt lở bờ sông, bờ biển. Tỉnh đã bố trí xây dựng nhiều cụm, tuyến dân cư, góp phần ổn định chỗ ở cho hơn 1.000 hộ dân.
Tuy nhiên, số hộ cần được bố trí nơi ở an toàn vẫn còn lớn. Theo ông Lê Hữu Toàn, An Giang còn khoảng 3.000 hộ cần nguồn lực để sắp xếp, bố trí dân cư. Vì vậy, việc xây dựng các tuyến dân cư cần đi đôi với tạo sinh kế tại chỗ, đồng thời nghiên cứu cơ chế kết hợp phòng, chống sạt lở với phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư hạ tầng.
Tại Cà Mau, địa phương đã đề xuất xử lý khẩn cấp khoảng 57 km bờ biển; qua khảo sát, tiếp tục phát sinh gần 29 km có nguy cơ cao. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Văn Sử cho rằng, cần triển khai các dự án cấp bách để hạn chế thiệt hại, đồng thời bố trí dân cư phù hợp với sinh kế và đặc thù văn hóa của cư dân vùng sông nước.
Từ thực tế tại các địa phương, yêu cầu đặt ra không chỉ là xử lý từng điểm sạt lở mà còn phải đánh giá tổng thể các yếu tố tác động đến dòng chảy, địa hình lòng sông, nguồn nước và hoạt động khai thác tài nguyên. Việc đầu tư các công trình riêng lẻ nếu thiếu phối hợp có thể chưa giải quyết được những nguyên nhân mang tính hệ thống.
![]() |
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, việc ứng phó với các thách thức tại ĐBSCL không thể chỉ theo hướng sạt lở ở đâu thì xây kè ở đó, sụt lún ở đâu thì xử lý ở đó. Các giải pháp cần được triển khai theo cách tiếp cận tổng thể, liên vùng, liên tỉnh và liên ngành, hướng đến xử lý các nguyên nhân gốc rễ.
Quan điểm xuyên suốt trong Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống, sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026 - 2035 là chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật tự nhiên, nhận diện đúng bản chất, nguyên nhân của sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL để có giải pháp xử lý tận gốc, bảo đảm tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giải pháp phi công trình và công trình; lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng nhất, lấy phát triển kinh tế - xã hội làm trọng tâm, lấy giữ vững môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL làm nguyên tắc nền tảng.
Kết luận 26 đã đề ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm và nhấn mạnh yêu cầu quản lý chặt chẽ tài nguyên nước, khai thác cát và nước ngầm; rà soát hiệu quả các công trình hạ tầng đã đầu tư; ưu tiên công trình đa mục tiêu; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, trí tuệ nhân tạo và chuyển đổi số trong công tác dự báo, cảnh báo. Đồng thời quản lý chặt hoạt động xây dựng ven sông, ven kênh rạch; xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung và tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2026 - 2030 dự kiến triển khai 8 dự án trọng điểm tại ĐBSCL, với tổng mức đầu tư hơn 30.000 tỷ đồng. Các dự án tập trung vào hệ thống thủy lợi, chuyển nước ngọt, kiểm soát xâm nhập mặn, nâng cấp đê biển Đông, đê biển Tây và các công trình phòng, chống sạt lở.
Cùng với đầu tư công trình, việc nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và cảnh báo sớm cũng có ý nghĩa quan trọng. Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ Trương Cảnh Tuyên kiến nghị quan tâm đầu tư, nâng cấp hệ thống quan trắc, dự báo sụt lún, sạt lở, hạn hán, xâm nhập mặn; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, dự báo thiên tai và xây dựng hệ thống điều hành công trình thủy lợi theo thời gian thực.
![]() |
Sạt lở, sụt lún tại ĐBSCL đang đặt ra thách thức lớn đối với an toàn dân cư, hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng. Để ứng phó hiệu quả, bên cạnh nguồn lực đầu tư đủ lớn, cần có cơ chế phối hợp giữa các địa phương, ngành chức năng trong quản lý tài nguyên, điều hành công trình thủy lợi, phòng ngừa rủi ro và bố trí dân cư. Bảo vệ đồng bằng không chỉ là giữ từng đoạn bờ sông, bờ biển mà còn là bảo vệ nơi ở, sinh kế và tương lai ổn định của hàng triệu người dân.
Các tin khác
Nghề đan lục bình - Hướng sinh kế cho phụ nữ nông thôn ở Cần Thơ
Hà Nội thí điểm phủ xanh trụ cầu, hầm chui để cải thiện môi trường đô thị
Tăng khả năng tiếp cận tài chính cho nông nghiệp xanh ở ĐBSCL
Trên 4.500 người tham gia chương trình “Cùng Việt Nam tiến bước” tại Tuyên Quang
Nông dân thu gom vỏ chai, bao bì thuốc bảo vệ thực vật, chung tay bảo vệ môi trường
Cần Thơ: Xã Vĩnh Thạnh phát huy sức dân, nâng chất nông thôn mới
Chợ tràm U Minh Hạ
Vật liệu xanh - Giải pháp cửa và nội thất bền vững cho công trình hiện đại
Đất Tổ trong kỷ nguyên mới: Kiến tạo những "tọa độ xanh" và hệ sinh thái Công nghiệp công nghệ cao
Đọc nhiều
Xã Thạnh Phú (Cần Thơ) thông tin việc bổ nhiệm hiệu trưởng sau sắp xếp
Cứu sống bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp do ong vò vẽ đốt
Trường Tiểu học số 1 Quảng Trạch - Tên gọi mới, diện mạo mới, mục tiêu mới
Những con đường “chờ ánh sáng”
Việc quản lý đất đai tại phường Móng Cái 3
Videos
E-magazine Inforgraphic Video
Ứng dụng LiDAR và AI trong việc lập bản đồ các "điểm nóng" phát thải từ thân cây
Vệ tinh giám sát và sức mạnh của dữ liệu mở
Nghi vấn xả thải ngầm khiến nguồn nước kênh mương tại xã Bình Minh (TP Hà Nội) ô nhiễm kéo dài
Thủ tướng động viên lực lượng bảo đảm vệ sinh môi trường ở Hà Nội
Diễn văn của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng
Đại hội XIV của Đảng sự kiện trọng đại của đất nước trong giai đoạn mới
Hợp tác xã bệ đỡ vùng trồng rau an toàn tập trung tại Hưng Yên
Hưng Yên sản xuất rau quả công nghệ cao hướng đi bền vững cho nông nghiệp sạch
Xã Ô Diên – Hà Nội: Bất cập từ bãi vật liệu xây dựng gây ô nhiễm môi trường và trách nhiệm quản lý tại địa bàn cơ sở
Than sinh học (Biochar) trong chăn nuôi: "Một mũi tên trúng nhiều đích" giúp giảm phát thải khí nhà kính
Vi phạm quy định về môi trường, 2 công ty xay xát lúa ở Cần Thơ bị xử phạt
Xử phạt Bệnh viện Quốc tế S.I.S Cần Thơ hơn 2 tỷ đồng vì vi phạm môi trường
Bắt quả tang cơ sở bán hàng trăm bộ kích điện đánh bắt thủy sản
Đổi mới sáng tạo là “chìa khóa” mở rộng giá trị ngành tôm Việt Nam
Cần Thơ: Tổng kết Dự án “Các Trung tâm Đổi mới sáng tạo xanh”
Công ty cổ phần bê tông 620 Châu Thới: Năng động, tiêu biểu trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng ngành giao thông vận tải
Hậu Giang: Tạo nền tảng cho vùng lúa chất lượng cao, thân thiện với môi trường
Sạt lở ở ĐBSCL - Bài toán an cư và sinh kế của người dân miền Tây
Nghề đan lục bình - Hướng sinh kế cho phụ nữ nông thôn ở Cần Thơ
Hà Nội thí điểm phủ xanh trụ cầu, hầm chui để cải thiện môi trường đô thị
Tăng khả năng tiếp cận tài chính cho nông nghiệp xanh ở ĐBSCL
An toàn thực phẩm - Đánh giá nguy cơ dựa trên bằng chứng và dữ liệu
Chuẩn hóa bữa ăn học đường vì sức khỏe học sinh
Sẽ áp dụng quy định mới về truy xuất nguồn gốc thực phẩm
Ea Kar tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm dịp Tết Trung thu
Kiên quyết đấu tranh, xử lý nạn săn bắt, mua bán động vật hoang dã, quý hiếm
Cà Mau: Phối hợp thả vích quý hiếm về biển
Jane Goodall – Nhà linh trưởng học khơi dậy lòng trắc ẩn với môi trường
Đắk Lắk: 12 cá thể động vật hoang dã quý hiếm được tái thả về với đại ngàn Tây Nguyên
Khi năng lượng tái tạo mở đường xóa bỏ nguồn phát sinh khí mê-tan
Tăng cường thực thi tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà
Chuyển đổi năng lượng sạch vì sự sống của miền Trung






